Hai câu hỏi cần tách ra
Giả sử bạn đọc một câu như "Ý thức có trước hay vật chất có trước?". Nhiều người sẽ nghĩ ngay đến việc "con người có biết được thế giới không". Hai chuyện này khác nhau. Triết học gọi chung là vấn đề cơ bản của triết học, và nó có hai mặt, mỗi mặt là một câu hỏi riêng:
Mặt thứ nhất (bản thể luận): cái nào có trước, vật chất hay ý thức? Cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai (nhận thức luận): con người có thể nhận thức thế giới không?
Hai câu hỏi này độc lập. Bạn có thể trả lời "vật chất có trước" nhưng vẫn cho rằng "không thể biết hết". Bạn cũng có thể trả lời "ý thức có trước" và vẫn tin "con người biết được thế giới". Nếu gộp hai mặt thành một, bạn sẽ phân loại sai ngay từ đầu.
flowchart TD
A["Vấn đề cơ bản"] --> B["Mặt 1: VC hay YT có trước?"]
A --> C["Mặt 2: Con người có biết thế giới không?"]
B --> D["Duy vật: VC có trước"]
B --> E["Duy tâm: YT có trước"]
C --> F["Khả tri: nhận thức được"]
C --> G["Bất khả tri: không nhận thức được"]Mặt thứ nhất: duy vật và duy tâm
Hãy hình dung hai cách trả lời "cái nào có trước" như hai hướng đi ngược nhau. Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất tồn tại trước, ý thức xuất hiện sau và là sự phản ánh vật chất. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng tinh thần có trước, vật chất có sau.
Tài liệu chia chủ nghĩa duy tâm thành hai nhánh:
Duy tâm khách quan: tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người (Platon, Hêghen).
Duy tâm chủ quan: thừa nhận tính thứ nhất của ý thức từng cá nhân (G. Berkeley, Hume, G. Fichte).
Còn một cặp thuật ngữ hay gặp là nhất nguyên và nhị nguyên. Nhất nguyên là chỉ có một bản nguyên (vật chất hoặc tinh thần). Nhị nguyên là có hai bản nguyên song song, không quy về nhau. Tài liệu đặt cặp này trong phần duy tâm, nhưng thực chất nó trả lời câu hỏi "có mấy bản nguyên", là một trục khác. Vì vậy đừng nhầm nhất nguyên với duy vật, hay nhị nguyên với duy tâm.
Không suy ra "duy vật thì khả tri, duy tâm thì bất khả tri". Ví dụ Berkeley thuộc duy tâm chủ quan, nhưng ông vẫn tin con người biết được các ý niệm của mình. Hume cũng được xếp vào duy tâm chủ quan, nhưng lại nổi tiếng vì hoài nghi. Mỗi mặt phải xét riêng.
Mặt thứ hai: khả tri, bất khả tri và hoài nghi
Mặt này trả lời "con người có nắm được bản chất sự vật không".
Khả tri luận: con người về nguyên tắc có thể hiểu bản chất của sự vật, và những gì ta biết phù hợp với chính sự vật.
Bất khả tri luận: con người không thể hiểu bản chất thật sự của đối tượng. Những hiểu biết về tính chất, đặc điểm của đối tượng dù xác thực cũng không đáng tin để đồng nhất chúng với đối tượng.
Hoài nghi luận: nghi ngờ việc đánh giá tri thức đã đạt được, cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan.
Một cách nhớ đơn giản: khả tri là "biết được", bất khả tri là "không biết được bản chất", hoài nghi là "không dám chắc mình biết".
Luyện phân loại một nhận định
Xét nhận định: "Thế giới là ý niệm tuyệt đối tự phát triển, và con người hoàn toàn nắm được quy luật của nó."
Tìm mặt bản thể: "ý niệm tuyệt đối" có trước, vật chất có sau. Đây là duy tâm khách quan.
Tìm mặt nhận thức: "hoàn toàn nắm được" là khả tri.
Kết luận: duy tâm khách quan, khả tri. Hai nhãn này đứng độc lập.
Ta thấy nếu chỉ nhìn thấy chữ "ý niệm" mà kết luận "bất khả tri" thì đã sai.
Khi gặp một nhận định, hỏi lần lượt: "Cái gì có trước?" rồi "Có biết được không?". Ghi hai đáp án riêng, rồi mới gọi tên lập trường.
Tự kiểm tra
Tôi chỉ chắc chắn về ý thức của mình; các sự vật bên ngoài chỉ là cảm giác của tôi. Nhận định này thuộc lập trường nào ở mặt bản thể?
- ADuy vật chất phác
- BDuy tâm chủ quan
- CDuy vật biện chứng
- DKhả tri luận
Một triết gia nói: "Ý thức có trước vật chất, và con người hoàn toàn có thể nhận thức thế giới." Ông thuộc lập trường nào?
- ADuy vật, khả tri
- BDuy tâm, khả tri
- CDuy tâm, bất khả tri
- DDuy vật, bất khả tri
Một nhà triết học nói: "Vật chất có trước ý thức, nhưng con người không thể hiểu bản chất thật sự của nó." Hãy nêu lập trường ở mặt bản thể luận và ở mặt nhận thức luận.
Nguồn
CQGTHMLN - CHƯƠNG 1 - 1.pptx, trang 13-19