Vì sao cần phân biệt các lập trường
Hai nhận định sau nghe đều rất « triết »: « Thế giới chỉ là tập hợp cảm giác của tôi » và « Chúng ta không bao giờ chắc chắn điều gì là thật ». Chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau. Muốn hiểu đúng một nhận định, bạn phải biết nó đứng ở đâu trên bản đồ. Ghi chú này đưa cho bạn bản đồ đó.
Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai câu hỏi. Câu thứ nhất: vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào. Đây là phần bản thể luận. Câu thứ hai: con người có nhận thức được thế giới hay không. Đây là phần nhận thức luận. Hai câu hỏi tạo ra hai trục để xếp mọi lập trường.
flowchart TD
A["Vấn đề cơ bản của triết học"] --> B["Bản thể luận: cái gì có trước?"]
A --> C["Nhận thức luận: có biết được không?"]
B --> D["Duy vật: vật chất có trước"]
B --> E["Duy tâm: tinh thần có trước"]
C --> F["Khả tri luận"]
C --> G["Bất khả tri luận"]
C --> H["Hoài nghi luận"]Trục thứ nhất: cái gì có trước?
Trả lời « vật chất có trước, ý thức có sau » là chủ nghĩa duy vật (CNDV). Trả lời ngược lại là chủ nghĩa duy tâm (CNDT). Hình dung như hỏi con gà hay quả trứng có trước. Ẩn dụ này đúng ở chỗ nó buộc bạn chọn một thứ đi trước. Nó sai ở chỗ vấn đề triết học không chỉ là thứ tự thời gian: nó hỏi cái gì là nền tảng, cái gì quyết định cái gì.
CNDV có ba giai đoạn, và bạn nên nhớ sự khác nhau giữa chúng:
CNDV chất phác (thời cổ đại): nhìn thế giới trực tiếp, bằng cảm tính, và lấy chính giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hướng đúng, nhưng chưa có công cụ phân tích sâu.
CNDV siêu hình (thế kỷ XVII-XVIII): xem thế giới như một cỗ máy khổng lồ gồm các bộ phận biệt lập, tĩnh tại. Nó chống duy tâm mạnh, nhưng nhìn sự vật tách rời và đứng yên nên mắc phương pháp siêu hình, máy móc.
CNDV biện chứng: do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập, V.I. Lênin phát triển. Nó khắc phục hạn chế trên: duy vật triệt để cả trong tự nhiên lẫn xã hội, và biện chứng trong nhận thức. Tài liệu gọi đây là hình thức cao nhất của CNDV.
CNDT cũng chia hai nhánh. Duy tâm khách quan cho rằng tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, như Platon và Hêghen. Duy tâm chủ quan cho rằng ý thức của từng cá nhân có tính thứ nhất, như Berkeley, Hume, Fichte.

Ví dụ Berkeley: ông nói « tồn tại là được tri giác ». Sự vật chỉ là tập hợp các cảm giác. Vậy khi không ai nhìn cái cây thì cây còn không? Berkeley trả lời bằng cách viện đến một tri giác luôn tồn tại (Thượng đế). Lập luận này cho thấy duy tâm chủ quan dễ đi vào tôn giáo, nhưng đó là lựa chọn riêng của Berkeley.
Ví dụ Hêghen: tinh thần tuyệt đối (ý niệm) là cái có trước; tự nhiên và lịch sử là sự phát triển của ý niệm.
Không phải mọi duy tâm đều gắn với lực lượng siêu nhiên. Slide của chương 1 viết CNDT « thừa nhận sự sáng tạo thế giới của các lực lượng siêu nhiên » và « liên hệ mật thiết với thế giới quan tôn giáo ». Điều đó đúng với nhiều dạng duy tâm, nhưng không đúng với tất cả. Ý niệm của Hêghen là lý tính phát triển trong lịch sử, không phải một vị thần sáng tạo. Hume thì chỉ dựa vào cảm giác. Khi viết bài, hãy nói « nhiều hình thức duy tâm có yếu tố tôn giáo », đừng khẳng định tuyệt đối.
Trục thứ hai: con người có biết được thế giới không?
Câu hỏi này tách ba thái độ:
Khả tri luận: về nguyên tắc con người có thể hiểu bản chất sự vật, và điều họ biết phù hợp với chính sự vật.
Bất khả tri luận: con người không thể hiểu bản chất thật của đối tượng. Những hiểu biết về tính chất, đặc điểm có thể đúng, nhưng không cho phép đồng nhất chúng với đối tượng.
Hoài nghi luận: nghi ngờ đánh giá tri thức đã đạt được, và cho rằng con người không thể đạt chân lý khách quan.
Bảng dưới đây giúp bạn đặt các lập trường lên hai trục:
Lập trường | Trả lời câu hỏi thứ nhất | Đặc điểm chính |
|---|---|---|
Duy vật chất phác | Vật chất có trước | Cảm tính, trực quan, chưa phân tích sâu |
Duy vật siêu hình | Vật chất có trước | Chống duy tâm, nhưng nhìn sự vật đứng yên, tách rời |
Duy vật biện chứng | Vật chất có trước | Biện chứng trong nhận thức, duy vật cả tự nhiên lẫn xã hội |
Duy tâm khách quan | Tinh thần khách quan có trước | Tinh thần tồn tại độc lập với con người |
Duy tâm chủ quan | Ý thức cá nhân có trước | Thế giới là tập hợp cảm giác của cá nhân |
Hoài nghi: phương pháp và phủ nhận
Đừng đánh đồng hai việc. Descartes nghi ngờ mọi điều để tìm một điểm chắc chắn; ông dùng nghi ngờ như một công cụ và đi đến « tôi tư duy, nên tôi tồn tại ». Đó là hoài nghi phương pháp, nhằm tìm chân lý. Ngược lại, hoài nghi luận cực đoan phủ nhận khả năng có chân lý. Một bên nghi để tìm, bên kia từ bỏ việc tìm.
Triết học Mác đứng ở CNDV biện chứng và khả tri luận: thế giới tồn tại độc lập với ý thức, và con người có thể nhận thức nó. Nó kế thừa CNDV trước đó và vượt qua hạn chế siêu hình của nó bằng phép biện chứng.
Tự kiểm tra
Nhận định « Thế giới chỉ là tập hợp các cảm giác của tôi » thuộc lập trường nào?
- ADuy vật chất phác
- BDuy tâm chủ quan
- CDuy vật siêu hình
- DKhả tri luận
Hai câu « Descartes nghi mọi điều để tìm nền tảng chắc chắn » và « Tôi không thể biết gì chắc chắn về thế giới » khác nhau thế nào về mục đích?
Nguồn
CQGTHMLN - CHƯƠNG 1 - 1.pptx, trang 13-19
George Berkeley by John Smibert.jpg, Ảnh: John Smibert, Public domain, Wikimedia Commons