Vì sao cùng một thời đại mà chỉ hai ông làm nên bước ngoặt?
Giữa thế kỷ XIX, châu Âu có nhiều người đọc cùng sách, cùng thấy công nhân khổ cực, cùng nghe về cách mạng. Nhưng chỉ C.Mác và Ph.Ăngghen dựng được một khoa học triết học mới. Câu hỏi này dẫn đến khái niệm nhân tố chủ quan: phẩm chất, lập trường và hoạt động của con người cụ thể đã biến những điều kiện có sẵn thành lý luận.
Một hình dung gần gũi: nguyên liệu (gạo, rau, thịt) quyết định món ăn có thể làm gì, nhưng người đầu bếp quyết định món ăn ra sao. Hình dung này chỉ đúng tới đó. Đầu bếp không thể làm món từ thứ không có trong bếp, và nguyên liệu tốt không tự thành món ăn.
Phân biệt hai lớp nguyên nhân
Điều kiện khách quan là những thứ có trước và không phụ thuộc ý muốn của một người: sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, thành tựu khoa học tự nhiên, tư tưởng triết học và kinh tế chính trị trước đó. Nhân tố chủ quan là vai trò của con người cụ thể, trong quan hệ với những điều kiện ấy. Không nên nhầm hai lớp này: điều kiện khách quan trả lời câu hỏi «vì sao phải có lý luận mới», còn nhân tố chủ quan trả lời câu hỏi «vì sao lý luận ấy được hình thành đúng như vậy, và do ai».
Ba mặt của nhân tố chủ quan
Thứ nhất, năng lực nghiên cứu. Tài liệu mô tả hai ông có chiều sâu tư duy triết học, chiều rộng nhãn quan khoa học và tinh thần sáng tạo khi giải quyết nhiệm vụ thực tiễn đặt ra. C.Mác có trí tuệ bao trùm nhiều lĩnh vực và nhãn quan chính trị nhạy cảm, nhờ đó vượt được những hạn chế lịch sử của các nhà triết học đương thời. Ph.Ăngghen đã có năng khiếu học tập và nghị lực nghiên cứu từ thời trẻ. Năng lực là điều kiện cần, nhưng không đủ để tạo ra bước ngoặt.
Thứ hai, lập trường. Đây là điểm dễ hiểu sai nhất. Qua lao động khoa học và hoạt động thực tiễn, hai ông chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng và nhân đạo chủ nghĩa sang lập trường giai cấp công nhân và nhân đạo cộng sản. Lập trường quyết định tầm nhìn: chỉ đứng trên lập trường giai cấp công nhân mới đưa ra được quan điểm duy vật lịch sử, còn những người bị giới hạn bởi lập trường giai cấp cũ thì không thấy được điều đó. Cùng một tư liệu, người đứng ở vị trí khác sẽ rút ra kết luận khác.
Thứ ba, hoạt động thực tiễn. Hai ông xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội nhưng tham gia đấu tranh. Từ hoạt động trên báo chí đến tham gia phong trào công nhân, các ông tận mắt thấy bất công giữa chủ tư bản và người lao động làm thuê. Ph.Ăngghen từng làm việc tại công ty của gia đình ở Manchester, nơi ông quan sát đời sống công nhân và viết tác phẩm về tình cảnh giai cấp công nhân Anh. Chính sự gắn bó giữa lý luận và thực tiễn đã tạo nên động lực sáng tạo của hai ông.

Sơ đồ quan hệ
flowchart LR
A["Điều kiện kinh tế-xã hội và khoa học"] --> C["Triết học Mác"]
B["Nhân tố chủ quan: năng lực, lập trường, thực tiễn"] --> CSơ đồ cho thấy hai nguồn cùng đi vào một kết quả. Mũi tên từ nhân tố chủ quan không thay thế mũi tên từ điều kiện khách quan.
Có hai cách hiểu sai đối xứng. Cách thứ nhất là chỉ nói đến thiên tài cá nhân, coi Mác và Ăngghen tạo ra triết học như từ con số không, bỏ qua phong trào công nhân và những tiền đề khoa học đã có. Cách thứ hai là coi hai ông chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh, không có vai trò gì. Cả hai đều sai. Cách tránh: khi trả lời, luôn nêu cả điều kiện khách quan lẫn vai trò chủ quan, và giải thích vì sao vai trò chủ quan chỉ có hiệu lực khi gắn với điều kiện đó.
Khi làm bài, hãy tự hỏi: điều này là hoàn cảnh có trước, hay là việc con người đã làm với hoàn cảnh đó? Câu trả lời sẽ cho bạn biết nó thuộc lớp nào.
Tự kiểm tra
Trong các yếu tố sau, yếu tố nào thuộc nhân tố chủ quan trong sự ra đời triết học Mác?
- ASự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu
- BLập trường giai cấp công nhân và hoạt động thực tiễn của C.Mác, Ph.Ăngghen
- CThành tựu khoa học tự nhiên thế kỷ XIX
- DMâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
Vì sao việc Mác và Ăngghen xuất thân từ tầng lớp trên không đủ để giải thích lập trường giai cấp công nhân của hai ông?
Nguồn
CQGTHMLN - CHƯƠNG 1 - 2 .pptx, trang 6-10
Karl Marx by John Jabez Edwin Mayall 1875 - Restored.png, Ảnh: John Jabez Edwin Mayall, Public domain, Wikimedia Commons