Ôn tập ngắt quãng (spaced repetition) là cách chia việc ôn một nội dung thành nhiều lần, cách nhau một khoảng thời gian, thay vì học dồn trong một buổi. Đây là một trong những phương pháp học được nghiên cứu kỹ nhất, và nó đặc biệt hợp với việc ôn thi dài hạn.
Vì sao học dồn một lần lại mau quên
Cuối thế kỷ 19, nhà tâm lý học Hermann Ebbinghaus tự học các chuỗi âm tiết vô nghĩa đến khi nhớ được, rồi đo xem mình còn nhớ bao nhiêu sau những khoảng thời gian khác nhau. Ông thấy trí nhớ giảm nhanh nhất ngay trong những giờ và ngày đầu, rồi chậm dần. Đường cong này được gọi là "đường cong quên lãng".
Ebbinghaus cũng thấy rằng mỗi lần ôn lại, phần còn nhớ được sẽ giảm chậm hơn lần trước. Nói cách khác, ôn lại đúng lúc không chỉ kéo trí nhớ lên, mà còn làm nó bền hơn.
Học dồn ("học tủ" sát ngày thi) có thể giúp bạn nhớ đủ để làm bài ngay hôm sau, nhưng phần lớn sẽ rơi rụng sau đó. Với kỳ thi cuối cấp, nơi kiến thức của cả năm hay ba năm được hỏi cùng lúc, cách này rất rủi ro.
Ôn tập ngắt quãng là gì
Thay vì học một nội dung ba lần liền trong một tối, bạn ôn nó ba lần: hôm nay, vài ngày sau, rồi một tuần sau nữa. Tổng thời gian gần như bằng nhau, nhưng kết quả khác hẳn.
Một tổng quan lớn năm 2006 của Cepeda và cộng sự, gom kết quả của hàng trăm thí nghiệm, kết luận rằng chia nhỏ việc học theo thời gian giúp nhớ lâu hơn học dồn một cách nhất quán. Một bài tổng quan năm 2013 của Dunlosky và cộng sự xếp ôn tập ngắt quãng vào nhóm hai phương pháp hiệu quả nhất trong mười phương pháp phổ biến được đánh giá (cùng với luyện tập truy hồi, xem bài Luyện tập truy hồi).
Điều quan trọng là mỗi lần ôn nên là một lần tự nhớ lại: làm câu hỏi, tự trả lời rồi mới xem đáp án. Chỉ đọc lại ghi chép thì hiệu quả kém hơn nhiều.
Nên giãn cách bao lâu
Không có một con số đúng cho mọi người, nhưng có vài nguyên tắc rút ra từ nghiên cứu:
- Lần ôn đầu nên đến sớm. Ngay trong ngày hoặc hôm sau, vì đó là lúc quên nhanh nhất.
- Khoảng cách tăng dần. Mỗi lần nhớ lại thành công, bạn có thể chờ lâu hơn trước khi ôn lần sau: 1 ngày, rồi 3-4 ngày, rồi 1 tuần, 2 tuần...
- Khoảng cách tùy vào ngày thi. Một nghiên cứu năm 2008 của Cepeda và cộng sự cho thấy khoảng cách tốt nhất tăng theo thời gian bạn cần nhớ. Thi trong một tuần thì ôn cách nhau một hai ngày; cần nhớ đến cuối năm thì khoảng cách có thể là vài tuần.
- Câu khó thì gặp lại sớm hơn. Câu bạn trả lời sai nên quay lại nhanh; câu bạn trả lời dễ dàng có thể để lâu.
Cách tự áp dụng
Bạn có thể bắt đầu ngay cả khi không dùng phần mềm nào:
- Sau mỗi buổi học trên lớp, viết ra vài câu hỏi ngắn về nội dung vừa học.
- Tối hôm đó hoặc sáng hôm sau, tự trả lời các câu hỏi mà không nhìn vở.
- Chia câu hỏi thành ba nhóm: chưa nhớ, nhớ lơ mơ, nhớ chắc. Nhóm chưa nhớ ôn lại vào ngày mai, nhóm lơ mơ sau vài ngày, nhóm chắc sau một tuần.
- Mỗi lần ôn, câu nào trả lời sai thì đưa về nhóm "chưa nhớ".
Đây chính là ý tưởng của "hộp Leitner" mà nhiều người dùng với thẻ giấy. Phần khó nhất là theo dõi câu nào đến hạn ôn, và đó là việc phần mềm làm tốt hơn trí nhớ của chúng ta.
Ôn tập ngắt quãng trên Học nè
Khi bạn học một đề bằng Học từng câu và đã đăng nhập, Học nè tự sắp lịch ôn cho từng câu. Sau mỗi câu, Học nè đánh dấu câu đó dựa trên cách bạn trả lời:
- Thử lại: trả lời sai hoặc bỏ qua. Mặc định quay lại sau 1 phút.
- Khó: cần gợi ý, hoặc chỉ đúng ở lần hỏi lại. Mặc định quay lại sau 15 phút.
- Tốt: đúng ngay lần đầu. Mặc định ôn lại sau 1 ngày.
- Dễ: đúng ngay lần đầu ở một câu bạn đã làm được từ trước. Mặc định ôn lại sau 4 ngày, và khoảng cách tăng gấp đôi sau mỗi lần ôn thành công.
Bạn có thể đổi các khoảng cách này trong phần Tùy chọn của Học từng câu, và tắt ôn tập ngắt quãng nếu chỉ muốn làm lần lượt. Những đề có câu đến hạn ôn hiện ở mục "Tiếp tục ôn tập ngắt quãng" trên trang chủ của bạn.
Với bộ flashcard, khi học bằng Học từng thẻ, bạn tự chọn một trong bốn mức trên sau khi lật thẻ, và Học nè hiện sẵn thời gian chờ của từng mức.
Nguồn
- Ebbinghaus, H. (1885). Über das Gedächtnis (Về trí nhớ).
- Cepeda, N. J., Pashler, H., Vul, E., Wixted, J. T., & Rohrer, D. (2006). Distributed practice in verbal recall tasks: A review and quantitative synthesis. Psychological Bulletin, 132(3), 354-380.
- Cepeda, N. J., Vul, E., Rohrer, D., Wixted, J. T., & Pashler, H. (2008). Spacing effects in learning: A temporal ridgeline of optimal retention. Psychological Science, 19(11), 1095-1102.
- Dunlosky, J., Rawson, K. A., Marsh, E. J., Nathan, M. J., & Willingham, D. T. (2013). Improving students' learning with effective learning techniques. Psychological Science in the Public Interest, 14(1), 4-58.